Skip to main contentHomepage
Hong

Tác động của đại dịch COVID-19 đến dịch vụ E-logistics tại Việt Nam

Posted by
ECO
ECO
Published on
--
Views
--
Comments
--
Tác động của đại dịch COVID-19 đến dịch vụ E-logistics tại Việt Nam

Tóm tắt

Cuộc khủng hoảng COVID-19 đã ảnh hưởng nặng nề đến mọi mặt của nền kinh tế toàn cầu, trong đó có Việt Nam. Tăng trưởng sụt giảm sâu, nhiều hoạt động bị đình trệ, nhưng thương mại điện tử nói chung và E-logistics nói riêng tại Việt Nam lại có sự phát triển mạnh mẽ và được đánh giá là có tiềm năng lớn trong tương lai. Bài viết tập trung phân tích tác động của dịch bệnh đến thị trường logistics điện tử của nước ta trên nhiều khía cạnh khác nhau. Đây cũng là lĩnh vực có triển vọng phát triển mạnh trong dài hạn khi thói quen tiêu dùng của người dân thay đổi và tốc độ hiện đại hóa nền sản xuất được đẩy nhanh. Để tạo điều kiện thuận lợi cho thị trường cần tháo gỡ các điểm nghẽn như nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng và hệ thống thể chế.

Giới thiệu

Đại dịch COVID-19 đã tác động tiêu cực đến mọi mặt của nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên, dịch bệnh cũng mở ra những cơ hội phát triển trong lĩnh vực thương mại điện tử trên phạm vi toàn cầu và tại Việt Nam khi các biện pháp giãn cách xã hội làm hình thành thói quen mua sắm không tiếp xúc cho người tiêu dùng. Thương mại điện tử mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế và người tiêu dùng như làm giảm chi phí và thời gian giao dịch, gia tăng lựa chọn và trải nghiệm của khách hàng. Để có phương hướng phát triển đúng đắn và hợp lý trong thời gian tới đòi hỏi cần có những nghiên cứu cụ thể về những tác động của dịch bệnh đến các khía cạnh của thương mại điện tử, trong đó có dịch vụ E-logistics (logistics điện tử hay hậu cần điện tử). Từ đó, nhận định các xu hướng và xây dựng chính sách, tạo điều kiện cho sự phát triển của nền kinh tế trong tương lai.

Đa số các công trình nghiên cứu trước đây đều tập trung vào tác động của dịch bệnh COVID-19 đến thương mại điện tử và tổng thể thị trường Logistics Việt Nam thay vì chú trọng vào thị trường E-logistics. Một số nghiên cứu đã bước đầu mô tả tổng quan thực trạng E-logistics Việt Nam trong thời kỳ dịch bệnh và đưa ra một số gợi ý chính sách để phát triển lĩnh vực trên (Mai Lê Lợi & Nguyễn Hồng Thái, 2021, Nguyễn Huỳnh Trọng Hiếu, 2021, Đỗ Minh Nam và các cộng sự 2021) song chưa có nhiều nghiên cứu cụ thể về tác động của đại dịch Covid 19 đối với thực trạng và triển vọng phát triển của thị trường E-logistics tại Việt Nam.

Bài viết này tập trung phân tích ảnh hưởng của đại dịch Covid 19 đến dịch vụ hậu cần điện tử thông qua các nhân tố ảnh hưởng đến E-logistics, từ đó đề xuất các hàm ý chính sách nhằm tạo điều kiện phát triển lĩnh vực logistics điện tử Việt Nam trong tương lai. Bài nghiên cứu bao gồm ba nội dung chính bao gồm cơ sở lý luận về E-logistics và các yếu tố tác động đến dịch vụ E-logistics; tác động của đại dịch Covid 19 đối với dịch vụ E-logistics tại Việt Nam; triển vọng thị trường E-logistics tại Việt Nam và một số hàm ý chính sách.

Cơ sở lý luận về E-logistics và các yếu tô tác động đến dịch vụ E-logistics

Logistics điện tử được xem là 5PL logistics, tức là logistics kết hợp với thương mại điện tử. Cụ thể, đây là toàn bộ các hoạt động nhằm hỗ trợ việc di chuyển hàng hóa từ nơi cung ứng đến nơi tiêu dùng thông qua các giao dịch mua bán điện tử. Điểm khác biệt lớn nhất của E-logistics so với logistics truyền thống là việc xử lý logistics đầu vào và logistics đầu ra bằng công nghệ thông tin và công nghệ tự động hóa để đáp ứng số lượng đơn hàng lớn, đa dạng chủng loại với thời gian giao hàng nhanh và độ chính xác cao.

Nhìn chung, các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến E-logistics nói riêng ở Việt Nam còn khá ít, rời rạc và còn nhiều hạn chế. Theo các nghiên cứu của Nguyễn Xuân Quyết, Trần Thị Ngọc Lan (2019), Đinh Tuấn Hải và các cộng sự (2021), Nguyễn Tiến Minh và các cộng sự (2022), có 07 yếu tố tác động đến dịch vụ E-Logistics, bao gồm nhận thức của khách hàng, công nghệ và bảo mật, hạ tầng pháp lý, sở hữu trí tuệ và bảo vệ người tiêu dùng, hệ thống thanh toán điện tử, nguồn nhân lực, tổ chức và quản trị. Ngoài ra, theo nghiên cứu của Yu Liu (2017) về thị trường E-logistics của Trung Quốc, có 05 yếu tố chính ảnh hưởng đến E-logistics là yếu tố độ tin cậy, yếu tố bảo trì, yếu tố phần mềm, yếu tố cơ sở vật chất, các yếu tố vận chuyển và xử lý. Nghiên cứu về E-logistics tại Malaysia, Miraz và các cộng sự (2020) đưa ra các yếu tố tác động đến E-logistics bao gồm: khả năng của chuỗi cung ứng, thanh toán điện tử, truy xuất hàng hoá trực tuyến, và niềm tin. Cùng nghiên cứu về thị trường Malaysia, mô hình của Mahbubul Hye và cộng sự (2020) cũng chỉ ra các yếu tố tác động đến E-logistics với vai trò trung gian của công nghệ thông tin – truyền thông và tích hợp công nghệ. Các yếu tố cụ thể bao gồm thanh toán điện tử, hợp tác, truy xuất hàng hoá trực tuyền, khả năng của chuỗi cung ứng, đổi mới, thiết kế website, chất lượng dịch vụ nguồn nhân lực và năng lực CNTT của doanh nghiệp.

Tổng kết từ các nghiên cứu trước đây, có thể thấy các nhân tố chính tác động đến dịch vụ hậu cần điện tử bao gồm: (1) Nhận thức của khách hàng - nhân tố tạo tiền đề cho niềm tin của người tiêu dùng đến việc mua sắm trực tuyến, (2) Hệ thống công nghệ thông tin, (3) Hệ thống thanh toán điện tử, (4) Nguồn nhân lực, (5) Cơ sở vật chất và hạ tầng giao thông vận tải, (6) Tổ chức và quản trị, (7) Khả năng của chuỗi cung ứng, (8) Cơ sở pháp lý, hệ thống thể chế

Tác động của đại dịch Covid 19 đối với dịch vụ E-Logistics tại Việt Nam

Tổng quan về dịch vụ E-Logistics tại Việt Nam

Đại dịch Covid19 đã thúc đẩy thị trường thương mại điện tử Việt Nam và kéo theo thị trường E-logistics phát triển mạnh mẽ. Số doanh nghiệp E-logistics tăng từ 50 trong năm 2017 lên hơn 3000 năm 2021. Trong đó, 89% là doanh nghiệp trong nước, 10% là doanh nghiệp liên doanh và 1% là doanh nghiệp nước ngoài. Phần lớn các doanh nghiệp giao dịch theo mô hình B2C. Đồng thời, trong cuộc khủng hoảng COVID-19, số lượng đơn hàng trực tuyến trung bình của nước ta là 104 đơn/năm, đứng đầu khu vực Đông Nam Á. Theo Báo cáo nghiên cứu về hình thức kinh doanh thương mại điện tử xuyên biên giới của tập đoàn Ninja Van, Việt Nam hiện đang chiếm 15% tổng thị trường mua sắm trực tuyến tại khu vực, chỉ đứng sau Thái Lan với tỷ lệ 16% và đang dẫn đầu khu vực ở nhiều chỉ số khác.

Tương tự với xu hướng tăng lên của nhu cầu mua sắm trực tuyến, có hàng trăm ngàn người bán hàng online mới gia nhập thị trường thông qua các tính năng bán hàng trên mạng xã hội như TikTok Shop, Instagram Reels, Zalo Shop,… khiến thị thường E-logistics thực sự bùng nổ.

Tuy nhiên, ngành E-logistics Việt Nam vẫn được đánh giá là chưa phát triển tương xứng với tiềm năng. Điều này là do các doanh nghiệp logistics của Việt Nam ứng dụng công nghệ còn ở mức độ thấp, gặp nhiều rào cản trong chuyển đổi số vì 95% doanh nghiệp logistics tại Việt Nam có quy mô nhỏ và vừa. Sự hạn chế về tài chính làm cho các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong đầu tư công nghệ, hệ thống kho bãi để quản trị lưu kho và dự trữ hàng hóa trong khi E-logistics đòi hỏi doanh nghiệp phải có hệ thống chi nhánh, đại lý, kho hàng phân bố rộng khắp. Bên cạnh đó, nguồn nhân lực còn thiếu về số lượng, yếu về trình độ chuyên môn sâu, thiếu kinh nghiệm, tính chuyên nghiệp và hạn chế về ngoại ngữ. Đây cũng là một rào cản trong đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động của các doanh nghiệp. Ngoài ra, 95% người tiêu dùng vẫn sử dụng phương tiện thanh toán COD (thanh toán tiền mặt khi nhận hàng) cho thấy việc thanh toán điện tử vẫn chưa phổ biến trên thị trường. Đáng chú ý, khoảng 60-70% chi phí E-logistics rơi vào khâu giao hàng chặng cuối do trung bình mỗi đơn hàng cần có khoảng 2,5 lần giao hàng mới thành công.

Tác động của đại dịch COVID-19 đến các nhân tố ảnh hưởng của dịch vụ E-logistics tại Việt Nam

Đối với nhận thức của khách hàng, trong bối cảnh giãn cách xã hội, nhu cầu mua hàng trực tuyến của người dân đã tăng lên đáng kể nhờ sự tiện lợi và khả năng giảm rủi ro dịch bệnh. Theo khảo sát của Nielsen, số người tiêu dùng mua sắm online năm 2020 tăng 25%, trong khi ở các kênh truyền thống như siêu thị, chợ và tạp hóa chỉ tăng lần lượt 7%, 3% và 6%. Trong đó, 82% người tiêu dùng cho biết họ mua sắm online trong giai đoạn cách ly xã hội, 98% cho biết họ tiếp tục mua online kể cả sau cách ly.

Đối với hệ thống công nghệ thông tin, COVD-19 đã thúc đẩy các doanh nghiệp áp dụng công nghệ thông tin để tối ưu hóa quy trình. Nhiều doanh nghiệp đã nắm bắt xu thế, xây dựng và đầu tư hệ thống kho, trung tâm vận tải, hoàn tất đơn hàng, phân phối… theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, ứng dụng công nghệ cao vào bốn mảng chính. Thứ nhất là trong vận tải đường bộ nhằm tối ưu hóa năng lực phương tiện, hoạch định và kiểm soát tuyến đường, lịch trình, thời gian, nâng cao tỷ lệ đầy xe hàng. Thứ hai là các giải pháp tự động hóa kho hàng thương mại điện tử, giao hàng chặng cuối và chuyển phát nhanh. Thứ ba là xây dựng những hệ thống điều hành kết hợp tự động hóa sản xuất với các nguyên tắc sản xuất tinh gọn. Thứ tư, một số nhà bán lẻ trong nước triển khai ứng dụng kết hợp giữa hệ thống thông tin - tự động hóa - trí tuệ nhân tạo trong quản lý chuỗi cung ứng từ khâu thu mua tới khâu phân phối và đến người tiêu dùng cuối cùng. Việc này đã góp phần hình thành hai mô hình trung tâm điển hình về ứng dụng công nghệ trong ngành Logistics Việt Nam là Trung tâm Logistics và cảng cạn quốc tế ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và kết nối công nghệ 4.0 và Trung tâm logistics phục vụ nông nghiệp.

Đối với hệ thống thanh toán điện tử, dịch bệnh cũng là nhân tố quan trọng thúc đẩy xu hướng thanh toán không dùng tiền mặt tại nước ta thông qua rào cản giãn cách xã hội và nhu cầu phòng chống lây lan virus. Các dịch vụ ngân hàng điện tử như thẻ, ví điện tử, internet banking; mobile banking… phát triển ngày càng đa dạng và tiện ích, linh hoạt theo nhu cầu và xu hướng phát triển của thị trường.

Đối với nguồn nhân lực, COVID-19 đã làm trầm trọng thêm tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực nói chung và nhân lực chất lượng cao nói riêng tại thị trường hậu cần điện tử Việt Nam. Trước hết, dịch bệnh ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe thể chất và tinh thần người lao động, gây nên tình trạng thiếu hụt lao động về mặt số lượng, đồng thời giảm năng suất lao động. Ngoài ra, việc áp dụng triệt để công nghệ thông tin trong vận hành chuỗi E-logistics đòi hỏi lượng lớn lao động trình độ cao, đặc biệt về công nghệ và ngoại ngữ. Trong khi đó, xét mặt bằng chung, trình độ lao động nước ta vô cùng thấp. Có thể thấy, tỷ lệ lao động qua đào tạo phân theo trình độ chuyên môn kĩ thuật còn rất khiêm tốn, chỉ đạt trong khoảng 14.8 - 26.12% trong hơn 10 năm, tức đến hiện nay, vẫn chỉ có hơn ¼ lực lượng lao động Việt Nam được đào tạo chuyên môn kỹ thuật. Không chỉ thấp về quy mô và tốc độ tăng trưởng của các con số cũng vô cùng khiêm tốn, chỉ đạt dưới 10% qua từng năm.

Như vậy, COVID-19 đã gây áp lực lên hệ thống E-logistics Việt Nam với sự thiếu hụt nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng.

Đối với cơ sở vật chất và hạ tầng giao thông vận tải, cuộc khủng hoảng COVID-19 làm cho tiến độ các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng có nhiều biến động, nhất là các dự án đầu tư công.

Năm 2020, trước những thách thức của dịch bệnh, vốn giải ngân đầu tư công vẫn tăng mạnh so với năm 2019 (32%), trở thành một động lực quan trọng trong tăng trưởng kinh tế nhờ sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ và việc triển khai Luật Đầu tư công 2019. Tuy nhiên, năm 2021, việc triển khai đầu tư công suy giảm 11%. Nguyên nhân chủ yếu là do việc triển khai phòng, chống dịch bệnh tại một số địa phương còn thiếu thống nhất, có nơi ban hành quy định cứng nhắc làm ảnh hưởng đến việc lưu thông hàng hóa, nguyên vật liệu xây dựng, chậm tiến độ triển khai dự án. Một số bộ, cơ quan, địa phương, nhất là những nơi không thực hiện giãn cách xã hội lại thiếu quyết tâm chính trị, vai trò người đứng đầu chưa được phát huy đầy đủ, công tác lập kế hoạch vốn chưa sát với thực tế và khả năng giải ngân. Như vậy, dịch bệnh làm gián đoạn chuỗi cung ứng logistics với các quy định giãn cách xã hội, dẫn đến chậm tiến độ dự án. Dự án không thể hoàn thành đúng tiến độ lại tiếp tục làm cản trở khả năng nâng cao hiệu quả của chuỗi logistics.

Đối với khả năng của chuỗi cung ứng, các quy định về giãn cách xã hội, hạn chế đi lại và vận chuyển ở nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ đã gây nên tình trạng đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu, làm giảm đáng kể nguồn cung hàng hóa, khiến cho các doanh nghiệp E-logistics phải mất nhiều thời gian, chi phí mới có thể đưa các đơn hàng đến tay người tiêu dùng. Mặt khác, COVID-19 lại đẩy nhanh quá trình triển khai việc đưa các mặt hàng nông sản Việt Nam lên sàn thương mại điện tử (Hoàng Minh Chiến, Phó Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công Thương, 2021). Nhờ đó, khả năng của chuỗi cung ứng trong lĩnh vực nông sản được nâng cao, tạo ra bước đột phá trong lĩnh vực thương mại điện tử nước ta và góp phần giải quyết bài toán đầu ra cho nông sản Việt Nam.

Đối với cơ sở pháp lý và hệ thống thể chế, các quy định phòng chống dịch bệnh, nhiều thủ tục thông quan phức tạp như yêu cầu các lái xe khi qua trạm kiểm dịch phải có giấy xét nghiệm COVID-19 đã gây nên sự ách tắc trong khâu giao nhận, kéo dài thời gian vận chuyển hàng hóa đến tay người tiêu dùng.

Kết luận và một số hàm ý chính sách cho Việt Nam

Như vậy, COVID-19 đã làm cho quá trình thực hiện dịch vụ E-logistics kéo dài thời gian đáng kể thông qua những tác động tiêu cực lên nguồn nhân lực, khả năng của chuỗi cung ứng, hệ thống cơ sở hạ tầng và cơ sở pháp lý, hệ thống thể chế. Tuy nhiên, nhận thức của khách hàng, tốc độ chuyển đổi số của doanh nghiệp E-logistics và sự phát triển của hệ thống thanh toán điện tử đã tăng lên đáng kể. Những yếu tố bị ảnh hưởng tiêu cực chủ yếu làm giảm hiệu quả của dịch vụ hậu cần điện tử trong ngắn hạn nhưng các yếu tố được tác đông tích cực lại góp phần quyết định đến cung cầu thị trường E-logistics trong dài hạn. Do đó, triển vọng phát triển E-Logistics tại Việt Nam thời kỳ sau đại dịch là vô cùng lớn. Logistics điện tử Việt Nam là thị trường tiềm năng lớn với quy mô được dự báo sẽ tăng trưởng hơn gấp 3 lần, chạm ngưỡng 52 tỷ USD năm 2025. Bên cạnh đó, một khảo sát của Google cũng chỉ ra rằng sau đại dịch, 63% người tham gia khảo sát sẽ duy trì đặt thức ăn trên mạng, 67% tiếp tục hành vi mua sắm online, đặc biệt 44% cho rằng sẽ không mua hàng bên ngoài khi mua được hàng trên mạng.

Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển dịch vụ hậu cần điện tử Việt Nam, Chính phủ cần triển khai đồng bộ, kết hợp một số biện pháp dưới đây:

Thứ nhất, Việt Nam không được lơ là cảnh giác mà tiếp tục theo dõi sát sao diễn biến dịch bệnh và sự phát triển của các biến chủng viruscorona mới để đảm bảo môi trường an toàn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và lưu thông hàng hóa.

Thứ hai, Chính phủ cần tiếp tục thúc đẩy việc giải ngân vốn đầu tư công, rà soát quy hoạch, xây dựng các trung tâm logistics và E-logistics để điều phối, vận hành và kết nối hiệu quả với các hệ thống cảng biển, kho bãi, đường giao thông trong nước và khu vực tạo thành những con đường vận tải hàng hóa thuận lợi, tối ưu hóa thời gian và chi phí cho doanh nghiệp.

Thứ ba, nhà nước cần đẩy mạnh công tác đào tạo nguồn nhân lực E-logistics, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ thông tin và ngoại ngữ để vận hành hệ thống hiệu quả. Đồng thời ứng dụng công nghệ trong quá trình đào tạo thông qua các mô hình đào tạo từ xa, các khóa học trực tuyến…

Thứ tư, Nhà nước cần có chính sách đầu tư, ưu đãi về thuế, hỗ trợ tài chính để doanh nghiệp E-logistics có điều kiện đầu tư hệ thống kho bãi, hệ thống phân loại hàng hóa, nâng cấp trang thiết bị bốc dỡ hàng, ứng dụng công nghệ thông tin,… đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa để có thể đủ sức cạnh tranh với các tập đoàn lớn của nước ngoài, nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường và giảm chi phí, năng cao năng lực cạnh tranh.

Thứ năm, Nhà nước cần tiếp tục xúc tiến nhanh việc cải cách, tinh giản các thủ tục hành chính để tạo môi trường kinh doanh dịch vụ E-logitsics thuận lợi, thông thoáng nhằm mục đích cắt giảm chi phí cho doanh nghiệp.

Edit on GitHub
Last updated: --/--/----