Nợ quốc gia của Mỹ
Nợ quốc gia là số tiền mà chính phủ liên bang đã vay để trang trải số dư chưa thanh toán được của các khoản chi phí phát sinh theo thời gian. Bất cứ khi nào chi tiêu chính phủ vượt quá số tiền thu được từ thuế và các khoản thu khác, thâm hụt ngân sách sẽ xảy ra. Khi các khoản thâm hụt trong quá khứ tích lũy ngày này qua ngày khác, nợ quốc gia tăng lên. Nếu GDP của một quốc gia lớn hơn nợ quốc gia của quốc gia đó, các khoản vay dù lớn vẫn có khả năng được thanh toán. Một dấu hiệu cho thấy khả năng duy trì tài chính của chính phủ là tỷ lệ nợ trên GDP, so sánh số nợ của một quốc gia với GDP của quốc gia đó. Khi tỷ lệ này đạt hơn 100%, nó báo hiệu nền kinh tế đang chi tiêu nhiều hơn số tiền họ thu vào.
Đây chính là vấn đề Mỹ hiện đang phải đối mặt, khi thâm hụt ngân sách trong 20 năm qua đã làm tăng đáng kể nợ quốc gia. Nợ quốc gia Mỹ đã tăng 25,73 nghìn tỷ USD kể từ năm 1993 lên tổng số 31,46 nghìn tỷ USD vào ngày 1 tháng 5 năm 2023. Để đối phó với trường hợp này, Bộ Tài chính Mỹ bán tín phiếu kho bạc, kỳ phiếu và trái phiếu để vay tiền từ các chủ nợ, cả công chúng và các cơ quan chính phủ khác (Bộ Tài chính Mỹ, 2023). Tuy nhiên, nếu không có các biện pháp thay đổi chính sách tài khóa, theo dự báo của Văn phòng Ngân sách Quốc hội (CBO), một tổ chức độc lập giám sát ngân sách Mỹ, nợ quốc gia sẽ tiếp tục gia tăng với tốc độ chóng mặt, đạt 100,4% GDP năm 2024 và 108,9% GDP vào 5 năm sau (USA fact, 2023). Ở Mỹ, tỷ lệ nợ trên GDP đạt mức 116%, có nghĩa là Mỹ có thể vỡ nợ và đẩy đất nước vào một cuộc suy thoái lớn, làm rung chuyển nền kinh tế thế giới và khiến tỷ lệ thất nghiệp tăng đột biến (Duggal, 2023).
Trần nợ công của Mỹ
Tổng quan
Trần nợ là giới hạn Mỹ tự đặt ra đối với tổng số tiền mà nước này được phép vay để thanh toán các hóa đơn như: các chương trình an sinh xã hội, lãi suất nợ quốc gia, tiền lương cho nhân viên chính phủ và các thành viên của lực lượng vũ trang (WEF, 2023). Giới hạn này áp dụng cho hầu hết tất cả các khoản nợ liên bang, bao gồm khoản nợ khoảng 24,5 nghìn tỷ USD do công chúng nắm giữ và khoảng 6,9 nghìn tỷ USD mà chính phủ vay từ các tài khoản chính phủ khác nhau (CRFB, 2023).
Trần nợ được ban hành lần đầu tiên vào năm 1917 thông qua Đạo luật Trái phiếu tự do lần thứ hai. Nó được ấn định ở mức 11,5 tỷ USD để đơn giản hóa quy trình và nâng cao tính linh hoạt trong việc vay mượn (CRFB, 2023). Tuy nhiên, trần nợ không cho phép đưa ra các cam kết chi tiêu mới mà chỉ cho phép chính phủ tài trợ các nghĩa vụ pháp lý hiện hành mà Quốc hội và người đứng đầu của cả 2 đảng đã đưa ra trong quá khứ.
Quốc hội đã luôn hành động khi được yêu cầu tăng trần nợ. Kể từ năm 1960, Quốc hội đã có tổng cộng 78 lần tăng vĩnh viễn, gia hạn tạm thời hoặc sửa đổi định nghĩa về trần nợ công, trong đó có 49 lần dưới thời các Tổng thống Đảng Cộng hòa và 29 lần dưới thời các Tổng thống Đảng Dân chủ. Các nhà lãnh đạo ở cả hai bên đều nhận định rằng thay đổi là cần thiết, nếu không, điều này sẽ gây ra hậu quả kinh tế nghiêm trọng (Bộ Tài chính Mỹ).
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, vấn đề nâng mức trần nợ dần bị chính trị hóa, đặc biệt là khi quyền lực ở Washington đang bị chia rẽ. Vì trần nợ là một trong số ít dự luật bắt buộc phải thông qua nên cả hai đảng đã cố gắng sử dụng lá phiếu như một cơ hội để thể hiện lập trường chính trị, yêu cầu nhượng bộ và cáo buộc về sự lãng phí của bên còn lại (Popli, 2023). Tình trạng Quốc hội ở trên bờ vực xung khắc đối với vấn đề này đã dẫn đến nhiều gián đoạn, trong đó có việc chính phủ đóng cửa cùng với khả năng vỡ nợ, làm tăng nguy cơ xảy ra thảm họa kinh tế. Tuy nhiên, vào năm 2023, Tổng thống Joe Biden và Hạ viện do Đảng Cộng hòa đã kiểm soát lại bất đồng, khiến các nhà kinh tế cảnh báo về những hậu quả nặng nề có thể xảy ra nếu Bộ Tài chính không còn khả năng chi trả cho các khoản nợ quốc gia (Berman, 2023).
Thỏa thuận trần nợ công năm 2023 của Mỹ
Nội dung chính
Tính đến tháng 6 năm 2023, nợ quốc gia của Mỹ là hơn 31,4 nghìn tỷ USD trong khi trần nợ là 31,4 nghìn tỷ USD. Điều này dấy lên lo ngại về những hệ lụy kinh tế đối với Mỹ nói riêng và thế giới nói chung. Tuy nhiên, để ngăn chặn khả năng vỡ nợ, Quốc hội đã thông qua dự luật trần nợ chỉ vài ngày trước khi Bộ Tài chính hết ngân sách để thanh toán tất cả các khoản nợ quốc gia (Luhby, 2023).
Dự luật cho phép đình chỉ trần nợ của quốc gia đến ngày 1 tháng 1 năm 2025. Bên cạnh đó, dự luật yêu cầu duy trì chi tiêu phi quốc phòng gần như không thay đổi vào năm 2024 và cho phép tăng 1% vào năm 2025 (Watson, 2023). Luật này cũng thu hồi khoản tiền cứu trợ COVID-19 chưa sử dụng, cắt giảm nguồn tài trợ mới của Sở Thuế vụ, đặt ra các yêu cầu công việc khắc nghiệt hơn đối với những người nhận tem phiếu lương thực và chấm dứt đợt tạm ngừng trả nợ khoản vay sinh viên liên bang trong thời kỳ đại dịch, nghĩa là những người có khoản vay sinh viên phải bắt đầu trả lại tiền cho chính phủ từ tháng 8 năm 2023 (Dorn, 2023). Ngoài ra, dự luật còn bao gồm một điều khoản phê duyệt tất cả các giấy phép còn lại cho dự án Đường ống Mountain Valley - dự án vận chuyển khí đốt tự nhiên từ các mỏ đá phiến Marcellus phía Tây Virginia tới Virginia. Đáng chú ý, điều khoản này vấp phải nhiều chỉ trích vì dự án đã bị các nhà bảo vệ môi trường và nhiều đảng viên Đảng Dân chủ Virginia phản đối trong suốt 1 thập kỷ (Davenport và Plumer, 2023).
Ở cả Thượng viện và Hạ viện, số lượng đảng viên Dân chủ ủng hộ dự luật này nhiều hơn số đảng viên Cộng hòa, nhưng điểm chung là cả hai đảng đều phần nào chỉ trích việc thông qua nó. Một số đảng viên Cộng hòa đã bỏ phiếu chống vì cho rằng nó không giải quyết triệt để việc cắt giảm chi tiêu của chính phủ và giảm thâm hụt liên bang. Trong khi đó, một số đảng viên Dân chủ chỉ trích về việc yêu cầu công việc gia tăng đối với những người nhận phúc lợi cùng với sự cấp phép cho dự án Đường ống dẫn dầu Mountain Valley (Dorn, 2023).
Từ góc nhìn của các nhà đầu tư, thỏa thuận trần nợ của Mỹ được cho là sẽ nới lỏng thị trường thu nhập cố định. Thỏa thuận cũng có thể có khả năng tăng sức mạnh đồng USD bằng cách giảm bớt những tranh cãi liên quan đến tình trạng phi đô la hóa (Matthews, 2023).
Tác động kinh tế và tài chính
Đối với nền kinh tế Mỹ
Các nhà phân tích cho rằng thỏa thuận về trần nợ của Mỹ sẽ tác động không đáng kể đến nền kinh tế nước này. Điều này được rút ra dựa trên các dự đoán rằng chi tiêu của chính phủ sẽ chỉ giảm nhẹ trong suốt 2 năm của thỏa thuận, ảnh hưởng rất ít đến GDP và chỉ tạo ra một số lượng nhỏ người thất nghiệp (Mena, 2023).
Theo Trưởng Ban Kinh tế của Pantheon Macroeconomics, thỏa thuận sẽ giảm khoảng 0,2% tăng trưởng GDP vào năm 2024 và thêm 0,1% vào năm 2025. Ngoài ra, nhà kinh tế cấp cao của EY-Parthenon cho rằng thỏa thuận sẽ làm giảm 0,3% GDP thực năm 2024 và khiến cho 250.000 lao động mất việc. Việc khởi động lại các khoản thanh toán khoản vay sinh viên vào cuối năm 2023 cũng chỉ có tác động nhỏ đến kinh tế vĩ mô, vì tài khoản tiết kiệm của người Mỹ vẫn ở tình trạng tốt và thị trường lao động đang ổn định trong thời điểm hiện tại (Mena, 2023).
Bất chấp tác động không đáng kể của thỏa thuận đến nền kinh tế vĩ mô, một số nhà phân tích tin rằng nó có thể mở ra một kỷ nguyên mới của chính sách tài khóa thắt chặt khi các thành viên quốc hội phải đối phó với việc các khoản nợ quốc gia tăng vọt trong đại dịch COVID-19 (Mena, 2023).
Mặc dù thỏa thuận trần nợ chỉ tác động nhẹ đến nền kinh tế Mỹ, sau nhiều cuộc đàm phán về trần nợ, nước Mỹ giờ phải đối mặt với nợ nần chồng chất. Để ngăn chặn thảm họa tài chính xảy ra, Bộ Tài chính đã dành phần lớn thời gian trong sáu tháng đầu năm 2023 để giảm nguồn dự trữ tiền mặt gần như về mức con số 0. Việc Bộ Tài chính phải gấp rút bổ sung tiền mặt như hiện tại có khả năng tạo ra mối nguy cơ tiềm ẩn cho nền kinh tế (The Economist, 2023).
Có hai nguồn tiền chính có thể huy động nhưng cả hai đều hàm chứa rủi ro. Đầu tiên là quỹ thị trường tiền tệ. Tuy nhiên, để thu hút đầu tư, Bộ Tài chính cần đưa ra lãi suất coupon cao hơn lãi suất 5,05% đối với các hợp đồng repo nghịch đảo. Lãi suất cao hơn có thể đồng nghĩa với chi phí tài trợ lớn hơn đối với các ngân hàng khu vực vốn đã căng thẳng. Giải pháp thứ hai là các tập đoàn, quỹ hưu trí và các nhà đầu tư khác chuyển tiền từ tiền gửi sang Kho bạc, làm giảm mức dự trữ ngân hàng trong hệ thống tài chính. Điều này có thể sẽ làm gia tăng những lo ngại về sự ổn định của ngân hàng và buộc những bên cho vay đưa ra mức lãi suất tiền gửi cao hơn để thu hồi dự trữ. Dù sử dụng cách nào đi chăng nữa, có một điều chắc chắn là cơn lũ phát hành từ Kho bạc sẽ làm tăng thêm sự lo ngại và biến động trên thị trường (The Economist, 2023).
Đối với nền kinh tế, tài chính toàn cầu
Vụ việc liên quan đến mức nợ trần vừa qua đã làm dấy lên những nghi ngờ về sức mạnh tài chính to lớn của Mỹ cũng như đồng USD. Rất nhiều hoạt động tài chính trên toàn thế giới luôn dựa vào niềm tin rằng Mỹ sẽ luôn thanh toán các nghĩa vụ tài chính của mình. Nợ của Mỹ, từ lâu đã được coi là một tài sản cực kỳ an toàn, là nền tảng của thương mại toàn cầu, được xây dựng dựa trên sự tin tưởng qua nhiều thập kỷ đối với Mỹ. Một vụ vỡ nợ hoàn toàn có thể phá vỡ thị trường nợ Kho bạc trị giá 24 nghìn tỷ USD, khiến thị trường tài chính đóng băng và gây ra một cuộc khủng hoảng thế giới (Wiseman, 2023).
Việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ tăng lãi suất mạnh mẽ - tổng cộng 500 điểm trong 14 tháng cho đến tháng 5 năm 2023 - đã tạo nên tình thế ngàn cân treo sợi tóc cho nhiều thị trường mới nổi. Từ đây, các thị trường này đã phải tranh giành để củng cố dự trữ ngoại hối và nền tảng kinh tế của mình để đối phó với tình trạng lạm phát cao (Jennings, 2023). Theo Mark Zandi, nhà kinh tế học tại Moody's Analytics, nếu Mỹ vượt qua mức nợ trần mà không giải quyết được tranh chấp, đồng thời Bộ Tài chính không trả được nợ, đồng USD sẽ tăng giá, ít nhất là trong thời gian đầu. Sau cùng, những nghi ngờ ngày càng tăng sẽ làm giảm giá trị của đồng USD (Wiseman, 2023).
Trong khi đó, với vai trò là chủ nợ lớn thứ hai của chính phủ Mỹ sau Nhật Bản, Trung Quốc có số trái phiếu chính phủ Mỹ chiếm khoảng 27% dự trữ ngoại hối của quốc gia này. Bế tắc ở Washington về trần nợ quốc gia sẽ đẩy nhanh việc Trung Quốc cắt giảm trái phiếu kho bạc Mỹ mà nước này nắm giữ, đồng thời thúc đẩy sử dụng đồng nhân dân tệ cho các thỏa thuận thương mại quốc tế, đặc biệt là nếu mức vay mượn hiện tại của Mỹ vẫn giữ nguyên và làm gián đoạn thị trường (Jennings, 2023). Tuy nhiên, chính phủ Trung Quốc luôn nhấn mạnh việc thúc đẩy quốc tế hóa đồng nhân dân tệ một cách có trật tự, cũng như sẽ không tích cực tìm cách thay thế đồng USD trong thời gian ngắn. Đồng thời, Trung Quốc khẳng định sẽ thận trọng hơn trước những rủi ro của việc nhanh chóng mở cửa thị trường tài chính. Mục tiêu thực tế hơn việc thay thế đồng USD là sử dụng đồng nhân dân tệ trên phạm vi quốc tế, góp phần phản ánh tỷ trọng 18% của Trung Quốc trong tổng sản phẩm quốc nội toàn cầu.
Hiện tại không có sự thay thế mạnh mẽ nào cho trái phiếu kho bạc Mỹ đối với các nhà đầu tư quốc tế, mặc cho những lo ngại về sự tái diễn của các cuộc khủng hoảng nợ của quốc gia này. Nhu cầu về nợ của Mỹ sẽ thay đổi cùng với những thay đổi về địa chính trị, mô hình kinh tế và thương mại. Đồng thời, nó phụ thuộc vào sự xuất hiện của các loại trái phiếu chính phủ khác, có khả năng thay thế hiệu quả nợ của Mỹ trên thị trường tài chính quốc tế (Jennings, 2023).
Thảo luận thêm
Gỡ bỏ trần nợ công
Việc dỡ bỏ trần nợ của Mỹ đã là chủ đề của nhiều cuộc thảo luận. Một mặt, trần nợ công thúc đẩy chi tiêu tài chính bền vững bằng cách trao cho Quốc hội Mỹ quyền giám sát và thiết lập cam kết đáng tin cậy để cắt giảm chi tiêu. Các nhượng bộ được đưa ra do các cuộc thảo luận về trần nợ thường làm giảm chi tiêu của chính phủ. (Berman, 2011).
Mặt khác, các đảng đối lập đã thường xuyên sử dụng các cuộc thảo luận về nợ trần trong những năm gần đây như một công cụ để gây ảnh hưởng các chính sách không liên quan đến mức trần và có nhiều tác động tiêu cực. Sự bế tắc kéo dài về trần nợ năm 2011 đã dẫn đến việc Mỹ lần đầu tiên bị hạ bậc xếp hạng tín nhiệm từ AAA xuống AA+ (Greve, 2023). Theo Bộ trưởng Tài chính Yellen, việc đợi đến phút cuối cùng mới tăng trần nợ có thể gây tổn hại đến niềm tin của người tiêu dùng, tăng chi phí vay ngắn hạn của người nộp thuế hoặc có thể làm suy yếu xếp hạng tín dụng của chính phủ Mỹ (Yellen, 2023). Các nhà phân tích cho rằng với bối cảnh phân cực chính trị hiện nay, mối đe dọa vỡ nợ là quá lớn khiến Quốc hội không thể giữ nguyên trần nợ mà nên để trần nợ tự động tăng lên bất cứ khi nào một gói chi tiêu được thông qua (Ferguson, 2021).
Tuy nhiên, ngay cả với những sai sót của nó, trần nợ công là công cụ thực sự duy nhất của quốc hội để giảm sát toàn bộ ngân sách liên bang. Với nợ quốc gia đang gia tăng nhanh chóng, trần nợ công giúp kiểm soát ngân sách của Mỹ. Do việc phát triển các công cụ thay thế có thể mất nhiều thời gian và công sức, Mỹ nên đánh giá, nâng cấp quy trình trần nợ của mình và học tập từ các mô hình trần nợ khác như của Đan Mạch.
Mô hình trần nợ của Đan Mạch
Bất đồng giữa Nhà Trắng và các đảng viên Cộng hòa trong Quốc hội về việc nâng trần nợ của Mỹ đã đẩy nền kinh tế lớn nhất thế giới đến bờ vực vỡ nợ. Tuy nhiên, ở Đan Mạch - nền dân chủ duy nhất khác có loại trần nợ danh nghĩa này - hầu như không được biết đến sự tồn tại của nó. (Smith, 2023).
Đan Mạch là quốc gia dân chủ trên thế giới có hạn nợ được ấn định ở một con số danh nghĩa cố định, nhưng quốc gia này chưa bao giờ có tình trạng bất ổn chính trị và kinh tế tương tự (Smith, 2023). Trần nợ được cố ý thiết lập đủ cao để tránh những mâu thuẫn chính trị như đang diễn ra ở Washington (Horowitz, 2023). Điều này phần lớn là do trần nợ của Đan Mạch được thiết kế để trở thành một điều khoản Hiến pháp tổng hợp. Theo Laura Sunder-Plassmann, phó giáo sư kinh tế tại Đại học Copenhagen, trần nợ của Đan Mạch được đặt cao đến mức sẽ không bao giờ trở thành “con bài thương lượng chính trị” như ở Mỹ, vì nhu cầu vay của chính phủ liên tục tăng lên chống lại nó.
Trần nợ của Đan Mạch, hay được biết đến với tên “gældsloft”, được thực hiện như một điều khoản của Hiến pháp vào năm 1993, sau một cuộc cải tổ cơ cấu chính phủ và được đặt ở mức 950 tỷ kroner Đan Mạch (137,5 tỷ USD). Các chính trị gia Đan Mạch coi đó phần lớn như một hình thức trấn an quốc hội và công chúng, rằng chính phủ thời đó không thể lừa đảo.
Đan Mạch có lịch sử duy trì vị thế tài chính mạnh mẽ, song bị thâm hụt đáng kể sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, khiến trần nợ trong năm 2010 phải tăng lên 2 nghìn tỷ krone Đan Mạch. Theo Ngân hàng Quốc gia Đan Mạch, đây là giới hạn quá lớn đối với một quốc gia nhỏ có khoảng 6 triệu dân, với khoản nợ quốc gia 323 tỷ kroner vào cuối năm 2022. (Smith, 2023).
Nhà kinh tế tại Ngân hàng Danske của Đan Mạch Las Olsen cho biết đây là một quyết định chiến lược. Các nhà lập pháp không muốn trần nợ trở thành vấn đề đại diện cho những cuộc thảo luận khó khăn về các kế hoạch tài khóa của chính phủ. Olsen cho rằng theo logic, Quốc hội là cơ quan ấn định thuế và chi tiêu, và một khi Quốc hội làm như vậy, thì không có cách nào khác là cho phép chính phủ vay phần chênh lệch. Các chính trị gia cũng nhận thức được rằng, với tư cách là một quốc gia nhỏ, Đan Mạch không đủ khả năng để khiến các nhà đầu tư hoảng sợ với những bất đồng chính trị thường xuyên.
Bên cạnh đó, những khác biệt chính trị lớn cũng là yếu tố cần xem xét. Trong khi Mỹ có sự phân chia quyền lực rõ ràng, điều dẫn đến sự bế tắc giữa ngành hành pháp và ngành lập pháp, thì quốc hội Đan Mạch bầu ra người đứng đầu chính phủ, thường là trên cơ sở liên minh các đảng phái. Điều đó làm cho trần nợ ít có khả năng bị biến thành một “quả bóng chính trị”. Ngoài ra còn có các quy trình riêng biệt để tạo ngân sách hàng năm. Có thể thấy rõ ràng là ở Đan Mạch, giới hạn nợ đã giúp chính phủ hoạt động trơn tru hơn so với tác dụng ngược lại ở Mỹ (Horowitz, 2023).


